Say Chiều 30


Say Chiều 30

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

 Tao với mày tuy hai mà một,
Mày với tao tuy một mà hai.
Ngày đổi đời tủi-hổ thân trai,
Giấu nỗi buồn tao với mày cưa hai một xị.

Sau 75 chúng mình say tí-bỉ
Nhờ rượu mà thành tri-kỷ, tri-âm.
Mày bi-bô, tao khóc âm-thầm,
Tao múa-máy, mày lầm-bầm văng tục.

Mày hỏi tao có cái đau nào không nhức,
Và có cái nhức nào mà lại không đau?
Nên mày điên-cuồng khi chúng phá rừng sâu,
Và phẫn-nộ khi núi đồi bị mất.

Tao hỏi mày có cái tan nào không nát,
Và có cái nát nào mà lại không tan?
Nên tao say mèm khi chúng lấn giang-san,
Nên tao say khướt khi mất dần biển nước.

Tao và mày cứ thế mà ngơ-ngác,
Ngày qua ngày nghe lạc tiếng chuông chiều.
Bớt một xị thật chẳng tỉnh bao nhiêu,
Thêm nửa xị mà ra điều da-diết.

Chiều 30 uống suông đến điếc,
Dô... dô mày, mình cưa hết cốc này.
Đập vỡ gương rờ mặt thằng thân-thiết,
Tỉnh ra rồi mới biết tao là mày.


Dã-Tràng Biển Đông

Mai Mốt Anh Về Em Đãi Anh Gì Nhỉ?

 
 
Mai Mốt Anh Về Em Đãi Anh Gì Nhỉ? 
 
Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

Mai mốt anh về em mua cá ảo
Làm chả chiên, chả hấp đãi anh ăn.
Thịt cá thơm ngon, rau sống, hành xanh, ớt đỏ,
Bánh tráng cuộn tròn như gói trọn tình-thân.

Mai mốt anh về em mua cá nục
Kho thật khô cùng ớt, tỏi, tiêu.
Có phải cá cay hay thương em cơ-cực:
Anh bỏ cơm ngồi tư-lự trăm chiều?

Mai mốt anh về cá ngừ kho miếng bự
Để lửa liu-riu cho mắm thấm vào xương.
Anh ăn có thấy lại em năm cũ?
Cá mặn gừng cay ai nỡ bỏ giữa đường?

Mai mốt anh về em đãi anh gỏi cá.
Ớt, rau thơm, thính, mắm, bánh tráng vừng,
Vài miếng khế chua, dăm lát chuối chát nhỏ.
Gỏi cá mai ngon sao ăn lại ngập-ngừng?

Mai mốt anh về ăn canh chua cá lóc,
Với ớt hiểm em trồng, và hũ mẻ em nuôi.
Có phải ớt cay mà anh đang khóc?
Hay mẻ em chua mà anh xót tình người?

Dã-Tràng Biển Đông

Chuyện Của Riêng Mình

Chuyện Của Riêng Mình

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

 
 
Đôi lúc buồn tôi bâng-khuâng tự hỏi:
Nếu sau này ta chẳng thể hiểu nhau?
Tiếng mình ngược xuôi, tiếng người xuôi ngược.
Rồi tủi-thân tôi vò tóc, gãi đầu.

Đôi lúc sợ sau này đọc sử
Sẽ chẳng còn Trưng-Trắc, Ngô-Quyền...
Tôi khóc tự-nhiên như trẻ thơ đòi bú,
Và ủi-an mình đó là chuyện hão-huyền

Nhưng được thư em tôi vô cùng mừng-rỡ.
Giấc mơ bình-thường em viết thật thiết-tha.
Em cần học những gì em cần có:
Lịch-sử quê-hương và văn-hóa nước nhà.

Em cũng gởi thêm một vài hình-ảnh:
Những bảng đường viết bằng chữ nước người.
Em bảo thấy nhói trong tim rất mạnh,
Mà tôi nghe đau thấu tận đất trời.

Tôi không sợ khi về tôi sẽ lạc,
Dù quanh tôi cái gì cũng lạ xa.
Bởi mẹ còn hát lời ru buồn man-mác.
Và không nhìn bảng đường em vẫn nhớ lối đi xưa.

Dã-Tràng Biển Đông

Mái Vú Ơi

 

Mái Vú Làng Tôi Ơi

Thơ: Dương Thị Bích Đào
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

Làng tôi nhà nào cũng làm mắm
Làm để bán
Làm để ăn
Nhiều như ông Bách, ông Diêng
Ít cũng cỡ bà Yên, bàThế
Làm mắm nhọc-nhằn nhưng vui khôn xiết kể
Bữa cơm gia-đình không thể thiếu mắm ngon
Mắm chưa là quốc-hồn, quốc-túy
Nhưng mắm là làng-túy, làng-hồn
Vì thế đã bao đời làng tôi nhà nào cũng làm mắm
Những mái vú thẳng hàng nằm phơi mình dưới nắng
Mùi cá trỏng, cá cơm đã thành mùi thơm con gái
Và vị mặn của muối đã nối tình-thân con người
Tôi yêu màu mắm tươi có chút đen và hương gạo của thính
Tôi yêu vị mắm mặn có mồ-hôi công-sức của mẹ cha
Nhưng làng tôi mai này sẽ không còn là làng mắm
Vì cá bị nhiễm-độc đã chết thảm mất rồi
Mái vú làng tôi ơi
Thương quá đi thôi
Mai này mái vú sẽ cô đơn vì nhớ cá
Như tôi đã bắt đầu nhớ mắm, mái vú ơi


Dương Thị Bích Đào

Đêm Viên-Tịch

Ngục Thu Yên 

   Rằm tháng Chín. Trăng thật sáng. Thấy rõ mặt những nhà sư đang đứng chấp tay trước thiền-phòng. Đêm càng về khuya, cảnh-vật càng yên-tịnh. Những câu hò, giọng hát... của dân làng dưới chân ngọn Tà-Đức đã ngưng lại từ hồi nào. Một sự yên-tịnh cơ-hồ có thể nghe được tiếng thở cũng như nhịp tim đập của những nhà sư. Đêm ấy, đêm viên-tịch của Thiền-Sư Không-Minh.
   Trong phòng, thiền-sư Không-Minh đi-đi, lại-lại. Đôi lần ông cầm cây bút lông, chấm vào lọ mực, đặt tay lên tờ giấy trắng rồi bỏ dở. Ông ngồi xuống ở tư-thế kiết-già, nhắm mắt, và lắng nghe hơi thở. Hơi thở làm ông thấy tâm mình chưa tịnh. Ông lại đứng lên, tiến về cửa sổ, và nhìn xuống chân núi.
   Ông ngỡ mình đã thoát được mọi cảnh-giới... Thế mà ông đang bất-an. Ánh trăng thôn-dã và những câu hò của dân làng ở chân núi đêm ấy đã làm ông xao-động nhiều. Đó là lần đầu tiên ông thấy trăng đẹp, và những câu hò, câu hát ấy là những gì ông nên tìm đến và gắn-bó.
   Thiền-sư Không-Minh như tiếc. Ông đã bỏ cái có để tìm cái không. Và sau khi viên-tịch, lấy gì bảo-đảm ông sẽ tìm được cái không ấy. Một điều ông biết rõ là ông đã mất đi những cái ông nên có. Hằng ngày ông được khen là giỏi, tài cao, đức-hạnh, Phật-Pháp tinh-thông... nhưng ông đã được gì và đã để lại gì.
   Đêm chưa kịp qua, ánh nắng ban mai chưa kịp lên, những nhà sư đã đẩy cửa thiền-phòng bước vào.
 - Ai sẽ là người được truyền y-bát?
   Một câu hỏi, dẫu không nói ra, như những hạt dẻ đã nẩy mầm trong đầu những nhà sư này từ lâu. Vạt áo tu-hành tuy có dài vẫn không giấu được những bước chân vội-vã. Nhưng ai cũng chưng-hửng. Thiền-sư Không-Minh không viên-tịch ở tư-thế kiết-già mà ông đang đứng tựa cửa sổ, mặt hướng về chân núi.
   Thiền-sư Không-Minh không để lại bài kệ nào, và cũng chẳng chọn người kế-thừa. Sau khi ông mất, môn-đệ ông mỗi người đi mỗi ngả. Cái tên thiền-tự là gì không còn ai nhắc tới, và cái tên của ngọn núi cũng vậy. Bây giờ, người ta chỉ biết ở Bình-Thuận có ngọn Tà-Dôn, Tà-Cú, và Tà-Bao, còn cái tên Tà-Đức đã đi vào quên-lãng.
   Một sự viên-tịch không trọn-vẹn nhưng ánh trăng thôn-dã và tiếng hát dân-gian đêm đó đã viên-mãn.

Ngục Thu Yên

Chuyện Mày, Chuyện Tao, Chuyện Chúng Mình


 

Chuyện Mày, Chuyện Tao, Chuyện Chúng Mình

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh
 
Sao mày lại ra đây ngồi khóc
Khi người người đang vui-vẻ hoan-ca?
Nói làm chi chuyện mất nước, còn nhà
Khi ngực hở, chân dài quay cuồng trên sàn nhảy?

Đừng dối lòng bảo nhìn mà phát ngấy,
50 năm vợ bỏ quên được à?
Lúc rượu vào người ta bảo lời ra
Dù mày chưa có giọt nào trong miệng.

Chuyện giàn khoan cũng làm tao chết điếng,
Nhưng qua rồi nhắc mãi để làm gì?
Ai quên ai nhớ, ai ở ai đi
Mặc mày ạ, vào say cho biết đắng.

Ở trong đó còn dăm ba thằng bạn
Đang chờ mày kể chuyện tiếu-lâm:
Chuyện cấm đàn bà của Đặng Trần Huân
Mà thuở trước chúng mình cười đến sáng.

Mày thấy đó: Tao mất tay, mày mất cẳng,
Thằng út liệt nằm may vợ nó nuôi,
Hai thằng lành-lặn thì lại dở hơi...
Nói như Cao Bá Quát: nửa này nửa nọ!

Mày thấy đó làm sao mà biển đỏ
Với máu mày và máu của anh em.
Đừng toét lửa hờn, đừng giận thét đêm đen!
Mơ chi nữa chuyện anh-hùng đi giữ nước?

Vào đi mày hãy cùng tao say khướt.
Một xị xong rồi sẽ quên chuyện biển Đông.
Vào đi mày đừng sụt-sùi sướt-mướt.
Ba xị xong rồi sẽ hết mộng tang-bồng.

Dã-Tràng Biển Đông

Khúc Ca Dã-Tràng



Khúc Ca Dã-Tràng

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

Sáng mùng một ngồi lau nước mắt,
Thương mẹ già đau ốm chẳng thuốc thang,
Nằm co-quắp trong chiếu màn rách-nát,
Ho từng cơn đau thắt cả ruột-gan.

Sáng mùng năm không dám nhìn ảnh bố,
Thẹn với lòng chưa nối được chí cao.
Bốn mươi năm vẫn sống đời đói-khổ,
Mưa dột mái nhà, ruộng mất, nước xanh-xao.

Tủi-hổ thân trai xưa tung-hoành một cõi,
Mà nay như con vượn ở trong chuồng.
Nhiều lúc nhớ rừng tim đau nhức-nhối,
Hú trong đêm như một kẻ điên-cuồng.

Nhà quá nghèo thuốc thang không có.
Ốm no rồi mẹ khỏi bệnh ra sân
Chống lại mái nhà chiều qua gió đổ.
Mẹ cười buồn chẳng dám trách Cao Xanh.

Đêm ba mươi một mình ta hát,
Tiếng đàn bầu lạc giọng hay ta cương?
Ôm mộng lớn ngày đêm khao-khát,
Ai nghe ra một khúc hát dã-tràng?

Dã-Tràng Biển Đông

Đi Biển Ngày 24




Đi Biển Ngày 24

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

Trời rét căm-căm bố mang chài ra đảo,
Kiếm cá về để mừng lễ Giáng-Sanh.
Nhà vỏn-vẻn còn vài ba nắm gạo
Con xin láng-giềng một ít mẻ nấu canh.

Đêm hăm bốn chuông nhà thờ rộn-rã,
Nồi canh buồn vì thiếu cá, bố ơi.
Cha nói nhiều về những vì sao lạ.
Con hoài-nghi ơn cứu-độ cho đời.

Đã nhiều lần bố đưa con ra biển,
Kể con nghe về câu chuyện dã-tràng,
Những tình-yêu lớn ở trong kinh-điển,
Và những ông vua biết nghĩ đến làng.

...Mẹ ốm dậy thèm canh chua cá,
Nhớ bố năm rồi đi biển không về.
Con thầm nói trong hồi chuông rộn-rã,
Xin mẹ yên-tâm mai con sẽ trở về.

Dã-Trànng Biển Đông

Ra Biển Ngày 26



Ra Biển Ngày 26

Thơ: Dã-Tràng Biển Đông
Giọng ngâm: Hiếu Hạnh

Sáng hăm sáu mẹ ra cửa biển,
Dõi mắt tìm một hình-bóng con thuyền.
Con vẫn biết mẹ luôn cầu-nguyện,
Xin Chúa Hài-Đồng cho con được bình-yên.

Suốt ngày hăm sáu mẹ nơi cửa biển
Lẩm-bẩm hoài câu xin chúng thả con về.
Một ngôi sao lạ làm mẹ chết điếng.
Nước im-lìm càng thêm nỗi tái-tê.

Con đang ở ngoài khơi, mẹ hỡi:
Cá tôm còn và trời nước vẫn xanh,
Nhưng không thể buông chài, thả lưới.
Biển quê mình con thành kẻ phạm xâm.

Qua ngày hăm sáu mẹ còn nơi cửa biển,
Mắt đã mờ và dạ đã héo-hon.
Tình mẹ bao-la như trời như biển,
Nhưng xin mẹ đừng hóa đá chờ con.

Dã-Tràng Biển Đông

Cái Kiềng Vàng

Ngục Thu Yên

   Tôi ngồi bên giường bà Dung và lắng nghe bà kể chuyện:
 
  "Sau mười năm tù, bố tôi vượt ngục và trốn về Hà-Nội. Ông nhờ người liên-lạc với vợ. Được tin, mẹ tôi mừng-rỡ, vội đem con đi gặp chồng. Bấy giờ, chị Luyến đã lớn, còn tôi và Tú chưa ra đời.
   Tôi không nhớ hết những gì đã xảy ra trong thời-gian này. Chỉ nhớ là có dì Tuyết ở cùng. Chị Luyến không thích dì. Chị hay tìm cách gây-sự. Riêng tôi và em Tú rất thích dì ấy. Bố tôi thường đưa dì đi hóng gió ở Đồ-Sơn. Dì Tuyết thương tôi và Tú nên luôn cho chúng tôi đi cùng. Em Tú không thích biển. Em chỉ muốn ở lại Hà-Nội xem ô-tô bay. Bố tôi và dì chiều em nên chương-trình thường phải thay đổi. Em ngồi trong lòng dì và vỗ tay cười tán-thưởng như người lớn. Tôi thấy dì sung-sướng. Dì ôm chặt Tú vào lòng và hôn lên tóc em. Nhiều lần tôi ghen với em và đòi được ngồi với dì nhưng bố tôi không cho phép.
   Mấy năm sau gia-đình chúng tôi dọn vào Hải-Phòng. Mẹ tôi bảo dì đi cùng nhưng dì không thể. Dì ôm mẹ tôi khóc. Khi xe chạy, dì cầm tay em Tú và chạy theo xe. Tôi nghe dì thét lên đau-đớn như đứt ruột gan khi xe gia-tăng tốc-độ và dì buộc phải buông tay em Tú ra. Mẹ và chị Luyến ứa nước mắt. Còn tôi và em Tú luôn miệng khóc.
   Ở Hải-Phòng mới được vài tháng thì bố tôi phải trốn vào Nam. Mẹ tôi nói bố tôi sẽ bị nguy-hiểm đến tính-mạng nếu không đi gấp. Mẹ tôi không thể về quê từ-giã bố mẹ. Bà mang mặc-cảm bất-hiếu. Từ đó cho đến khi qua đời, không phút nào mẹ tôi không mơ ngày trở về nơi chôn nhau cắt rốn của bà.
   Sau khi vào Nam, bố tôi đi lính. Ông bị thuyên-chuyển luôn. Mẹ tôi bảo bởi vì tính ông cương-trực. Ông không quỵ-lụy và chịu hợp-tác với ai để mưu-cầu lợi-ích riêng cho mình.
   Có lẽ Quảng-Ngãi là nơi bố tôi làm việc lâu nhất. Ông thuê một căn nhà ở trong phố, vừa an-ninh, vừa tiện cho việc học của chúng tôi, và cũng vừa có nơi để mẹ tôi mua bán cau khô. Chị Luyến lúc ấy đã trưởng-thành. Chị đưa chúng tôi đi thăm bố vào những ngày cuối tuần. Tôi nhớ giòng sông Trà-Khúc và những ngày bẻ măng, hái khế ở Mộ-Đức. Chúng tôi ăn cơm chung với những người dân ở đây. Những hạt cơm đỏ mà đến giờ tôi vẫn còn thấy ngon hơn những hạt cơm trắng tôi ăn thường ngày. Họ cho chúng tôi những lon mạch-nha thơm ngọt. Bố tôi bảo đem về làm quà biếu mẹ. Chị Luyến quấn mạch-nha vào đũa và quẹt lên bánh tráng. Mẹ con chúng tôi ngồi ăn với nhau. Tiếng bánh dòn tan như chuỗi cười vui-tươi của gia-đình.
   Bố tôi giải-ngũ trước ngày đảo-chánh. Ông đưa gia-đình vào Nha-Trang. Ở đây, bố tôi làm nghề biển nhưng bị thất-bại. Số vốn nhỏ-nhoi mẹ tôi dành-dụm được trong thời-gian buôn cau ở Quảng-Ngãi không mấy chốc mà hết. Mẹ tôi dẫn em Tú đi gặp những đồng-chí cũ của bố tôi để nhờ giúp-đỡ. Chẳng ai nhận ra mẹ tôi. Bà phải bán cái kiềng vàng, kỷ-vật duy-nhất ngoại tôi cho bà, để trang-trải nợ-nần. Tôi còn nhớ như chuyện vừa mới xảy ra. Mẹ tôi khóc. Tay bà run. Bố tôi phải giúp bà lấy đưa cho người hàng xóm. Lúc bà ta vừa ra khỏi nhà, mẹ tôi ngã xuống và ngất đi. Bố tôi ôm vợ vào lòng. Một vài giọt nước mắt nhọc-nhằn chảy xuống. Từ đó, mẹ tôi như ngây-dại mỗi lần trông thấy cái kiềng của mình trên cổ người đàn bà kia. Và cũng từ đó, mẹ tôi có thói quen mới là hay đưa tay lên sờ cổ mình.
   Để tránh phiền-muộn cho vợ, bố tôi đưa gia-đình về Vinh-Phú, một giáo-xứ ở Phan-Thiết. Ở đây, bố tôi vui vì được gần anh chị nhưng vô tình lại làm cho mẹ tôi buồn thêm. Bố tôi nói bên ngoại tôi nặng tình quê cha đất tổ nên không nỡ bỏ mồ-mả ông bà. Mẹ tôi không họ-hàng thân-thích. Bà cô-đơn và tủi-thân khóc những khi anh em bên chồng hội-họp với nhau. Mẹ tôi luôn đưa tay lên cổ như để tìm hơi-hướm ông bà ngoại tôi. Khi bố tôi kiếm được việc làm, ông sắm cho mẹ tôi cái kiềng khác. Mẹ tôi ứa nước mắt cám-ơn chồng. Dầu vậy, mẹ tôi vẫn tơ-vương cái kiềng cũ. Bố tôi biết ý. Ông hứa sau này sẽ ra Nha-Trang chuộc lại.
   Lương bố tôi không đủ nuôi gia-đình. Mẹ tôi phải mua mắm ở Thanh-Hải và đem vào Gia-Kiệm bán lại. Quốc-lộ 1 lúc bấy giờ không được an-ninh. Nhất là ở khoảng rừng Lá. Xe thường bị chận lại, hàng-hóa hay bị mất, đôi lần mẹ tôi bị đưa vào rừng đến mấy ngày sau mới về. Bố tôi lo cho vợ. Ông không muốn mẹ tôi đi buôn nhưng bà không chịu. Mẹ tôi bảo phải lo cho chúng tôi ăn học.
   Nhờ sự chịu-khó của bố mẹ mà gia-đình chúng tôi cũng không đến nỗi nào. Bố tôi nhớ lời hứa xưa nên đưa mẹ tôi ra Nha-Trang chuộc lại cái kiềng cũ. Mẹ tôi sung-sướng cười nói luôn miệng. Mắt bà long-lanh như những tia nắng nhảy múa theo làn gió dưới bóng cây trầm-duộc trước nhà. Nhưng niềm vui của mẹ tôi, như những tia nắng đó, chúng biến mất khi chiều vừa xuống. Mẹ tôi xỉu từ Nha-Trang xỉu về. Em Tú phải phụ bố tôi khiêng mẹ vào nhà. Mắt bố tôi đẫm lệ. Tôi biết rằng người hàng xóm năm xưa không còn ở đó nữa.
   Từ ngày bố tôi giải-ngũ, chúng tôi mới thật sự được học trọn khóa. Khi về Vinh-Phú, tôi thấy mình đã lớn, còn chị Luyến đã có chồng nên ngỏ ý muốn ở nhà phụ-giúp bố mẹ. Mẹ tôi không bằng lòng. Bà bảo muốn thấy tôi và em Tú được ăn học nên người. Chúng tôi thương mẹ nên cố-gắng. Khổ nỗi, vì mất căn-bản, em Tú và tôi không thể theo kịp bạn lớp. Hàng tháng, cứ đến ngày xướng danh những học sinh xuất-sắc trên loa phóng thanh của giáo-xứ, mẹ tôi dù bận thế nào cũng phải ở nhà cho bằng được. Bà lắng tai và chờ nghe tên con mình. Tội-nghiệp mẹ tôi, trong suốt thời-gian học, tên chúng tôi chưa từng được đọc trên loa phóng thanh lần nào. Bố tôi an-ủi vợ. Ông nói học giỏi là một điều tốt, nhưng chưa bằng làm một công-dân tốt. Và ông bảo chúng tôi hãy học làm những học-trò tốt để trở thành những công-dân tốt sau này. Chúng tôi luôn được nhất hạnh-kiểm. Mẹ tôi sung-sướng. Bà ôm chặt những gói phần thưởng của chúng tôi vào lòng. Tôi thấy màu xanh, đỏ, vàng của những tờ giấy bóng nhảy múa trong mắt mẹ tôi.
   Tú học chưa hết năm đệ tứ thì phải đi lính. Mẹ tôi không hỏi ý chồng, bà lén chạy-chọt cho Tú được miễn-dịch. Bố tôi hay chuyện. Ông la mẹ tôi. Ông không muốn em Tú trở thành người hèn và thiếu trách-nhiệm. Lần đầu tôi thấy ông giận-dữ. Và đây cũng là lần đầu tôi thấy mẹ tôi mất vẻ dịu-dàng hằng ngày của bà. Bấy giờ thì tôi hiểu vì sao ngày xưa bố tôi bị giam-cầm, vì sao ông phải khuất mình làm việc chung với những người đến cai-trị nước mình, và vì sao ông phải vội-vã chạy vào Nam. Tôi cũng được biết nguyên-do ông ngoại tôi bị chặt tay, tại sao bác Cả tôi bị xử bắn ở Thái-Nguyên, và cớ sao dì tôi nhục-nhã đến nỗi phải thắt cổ tự-vẫn... Mẹ tôi bảo vì bố tôi mà gia-đình bên ngoại bị liên-lụy. Và bà không muốn thấy một bất-hạnh nào đến với em Tú. Nhưng cuối cùng thì mẹ tôi cũng phải để Tú đi lính. Không phải vì bà nghe bố tôi nói về bổn-phận công-dân, mà vì đó là quyết-định của em. Mẹ tôi khóc thảm-thiết. Tôi nghĩ ngày bố tôi bỏ nhà đi làm cách-mạng, mẹ tôi cũng chỉ khóc được như thế này. Tôi phân-vân tự hỏi tại sao mẹ tôi thường ứa nước mắt thở dài mỗi lần thấy em Tú tôi ôm cây đàn đáy.
   Từ ngày Tú lên đường, mẹ tôi luôn lo-lắng. Mặc dầu lấy chồng và trở lại đạo Thiên-Chúa, bà vẫn không quên cầu xin Trời Phật che-chở em tôi. Tôi không nghĩ Chúa, Mẹ Maria, hay Phật đã nghe lời mẹ tôi. Nhưng tôi tin rằng, những lời bà xin đã trở thành một sức mạnh vô hình gìn-giữ con mình. Vì thế, sau nhiều năm ở chiến-trường, Tú luôn được bằng-an. Trong trận hạ Lào, nhiều đồng-đội của em bị chết, riêng em chỉ bị mất một chân và đôi bàn tay. Ngày vào quân-y viện thăm em, bố tôi ngậm-ngùi rơi lệ, còn mẹ tôi ôm em và khóc ngất.
   Không lâu sau ngày Tú trở về, người hôn-thê của em, cùng với bố mẹ cô ta, đem cái kiềng vàng đến trả và xin hủy cuộc hôn-ước. Mẹ tôi cầm lại cái kiềng vàng. Bà nhìn tôi như muốn nói điều gì đó. Cổ bà dường như nhỏ lại. Khó-khăn lắm mẹ tôi mới nuốt được cục nước miếng đang nghẹn trong họng. Tôi nhớ gương mặt rạng-rỡ của bà ngày đi hỏi vợ cho con. Khi đeo cái kiềng này vào cổ người con gái kia, có lẽ mẹ tôi đã nghĩ rằng vĩnh-viễn bà đã trói được cuộc đời cô ta vào cuộc đời em tôi. Tôi ôm mẹ và khóc. Tôi nhủ lòng mình rằng, dù mẹ tôi không đeo kiềng vào cổ tôi, tôi cũng sẽ tự trói buộc cuộc đời tôi với em. Vì thế, tôi đã từ-chối nhiều đám. Bố mẹ tôi sau này hiểu ý. Ông bà rất áy-náy vì nỗi tôi lớn tuổi mà vẫn chưa chịu lấy chồng.
   Với hai bàn tay giả và cái chân gỗ, Tú không làm được gì. Bố tôi buồn-rầu sinh bệnh. Ông bỏ-bê công ăn việc làm. Mẹ tôi phải vất-vả ngược xuôi để nuôi gia-đình. Là gái, tôi chẳng giúp Tú được gì ngoài việc ăn uống. Mẹ tôi phải tắm-rửa và làm những việc khác. Thế mà bà không một lời thở-than. Được phút giây nào rảnh-rỗi trong ngày, mẹ tôi luôn ngồi nói chuyện với em. Bà đưa cây đàn đáy cho em gảy. Tiếng được, tiếng mất. Còn bà thì hát theo lối cô đầu. Một lối hát, mà theo chị Luyến kể lại, mẹ tôi rất ghét kể từ ngày dì Tuyết đến ở với gia-đình chúng tôi. Đôi lần tôi nghĩ, giá như em tôi chết trận, thì đỡ đau-đớn cho mẹ tôi chừng nào. Bà không giấu được những giọt nước mắt đang chảy âm-thầm trong lòng bà.
   Năm 1975, anh Bảo, chồng chị Luyến, thu-xếp cho em Tú, mẹ, và tôi qua được bên này. Riêng anh không nỡ bỏ lính mà chạy. Chị Luyến thương chồng ở lại. Bố tôi thương chị nên cũng không đi. Ông chúc bình-an cho chúng tôi và hứa sẽ gặp lại bên này cùng với vợ chồng chị Luyến. Nhưng bố tôi không thực-hiện được lời hứa ấy. Chồng chị Luyến mất. Và bố tôi cũng thế. Thật mỉa-mai thay, ông mất ở một nơi mà ngày xưa chị Luyến theo mẹ đến tìm tung-tích bố chúng tôi, nhưng giờ thì chính chị đến đó để đưa xác bố chúng tôi về.
   Vừa qua bên này, mẹ tôi liền giục tôi viết thơ về nhờ bố tôi liên-lạc với bên ngoại. Ngày nhận được thư chồng, mẹ tôi mừng lắm, vội bảo tôi đọc. Bố tôi cho biết người con bác Hai đã vào Nam tìm mẹ tôi. Anh nói chỉ trừ ông bà, vì tuổi già đã mất, còn ai nấy đều khỏe mạnh và mong sớm có ngày gặp được mẹ tôi. Nghe thế, mẹ tôi khóc òa lên. Hơn lúc nào hết, giấc mơ trở về quê cũ bừng sống mãnh-liệt trong lòng bà. Mẹ tôi luôn cầu xin hai nước sớm bang-giao để bà có thể về lại. Sau này, khi có dịp nói chuyện với anh họ qua điện-thoại, tôi mới hay bố tôi giấu vợ. Thật ra, ông bà ngoại tôi chết vì một mẩu ruộng mà vị vua nào đó đã ban cho tổ-tiên chúng tôi làm hương-hỏa khi đem dân đi khai-hoang, còn bác Hai tôi uất mà qua đời. Cũng trong dịp này, tôi được biết anh họ tôi và em Tú đã gặp nhau ở trận hạ Lào. Tôi nhớ em nói trước khi ngất đi có thấy một người rất giống mẹ đến nhìn mặt em. Anh họ tôi cũng thuật lại tương-tự như vậy. Không có gì là chắc nhưng tôi tin đó là sự thật.
   Mẹ tôi và em Tú đều sống nhờ vào trợ-xấp xã-hội. Em được lắp đôi bàn tay máy và có một chiếc xe lăn tự-động. Nhờ thế, rất đỡ cho mẹ và tôi. Mẹ tôi dành-dụm mua vải, quần áo, thuốc men gởi về cho chị Luyến. Chị bán đi để lấy tiền tiếp-tế cho chồng và bố.
   Không hiểu có phải vì buồn mà những cái nhọt trong miệng mẹ tôi biến thành ung-thư? Chúng phát rất nhanh. Ăn lên đầu và lan xuống cổ. Một bên má mẹ tôi bị thủng. Máu và mủ rỉ ra. Hôi-thối không tưởng được. Em Tú lúc nào cũng bên cạnh mẹ. Nhìn em dùng đôi bàn tay máy băng-bó cho mẹ, tôi không thể cầm được nước mắt. Mẹ tôi không còn biết gì nữa. Bà mơ-màng vì morphine. Mẹ tôi gọi bà ngoại tôi, kêu ông ngoại tôi. Bà nói chuyện với các anh, các chị. Thỉnh-thoảng bà lại mỉm cười. Lâu lắm, tôi không thấy mẹ tôi vui. Và tôi không muốn mẹ tôi tỉnh dậy nữa để khỏi đau-đớn vì bệnh, khỏi buồn vì tấm thân tàn-phế của em Tú. Đôi tay của em hẳn đã làm cho mẹ tôi nhớ đến ông ngoại tôi mỗi ngày.
   Mẹ tôi bệnh khoảng hai năm thì mất. Tôi nghĩ tôi sẽ không sống được khi không có mẹ. Nhưng khi mẹ tôi qua đời, sao lòng tôi thản-nhiên lạ thường.
   Giờ thì chỉ còn lại hai chị em tôi. Tôi thương Tú lắm. Tôi muốn trói buộc đời tôi với đời em mãi mãi nhưng số mệnh không cho. Tôi sắp phải bỏ Tú mà đi. Bệnh tôi ngày một nặng. Miệng tôi lở-loét và đau-đớn vô cùng. Không hiểu sao ngày xưa mẹ tôi có thể chịu-đựng được những sự đau-đớn này. Bà không hề la hét. Quá lắm, mẹ tôi chỉ khẽ rên và gọi mẹ ơi mà thôi. Lát nữa Tú vào, tôi muốn dặn em hãy cố-gắng trở về Nông-Cống, thực-hiện giấc mơ cuối của mẹ tôi trước khi bà mất, là tậu cho mấy đứa cháu của bà một vài con trâu, con nghé. Nhưng làm sao em Tú có thể về được...."
   
   Tôi bỏ thêm morphine vào bọc nước biển (IV) cho bà Dung rồi đi ra ngoài. Khoảng nửa giờ sau, tôi thấy ông Tú ngồi trên xe lăn vào. Mắt ông đẫm lệ. Tôi giúp ông mở cửa phòng. Ông lại giường bà Dung rồi gục mặt vào ngực chị mình và khóc như trẻ nít. Tôi thấy bà Dung nằm im, tay ôm chặt cái kiềng vàng. Cái đèn đỏ trên đầu giường chợt sáng, chuông reng, và tiếng đọc kinh bắt đầu vang lên trong bệnh-viện.  Tôi loáng-thoáng nghe ông Tú nói với chị là ông sẽ về.

Ngục Thu Yên